|
Article on other languages:
|
Phía đông Đài Loan chủ yếu là đồi núi và các đồng bằng thoai thoải về phía tây. Quần đảo Bành Hồ nằm ỏ phía tây Đài Loan. (Hình vệ tinh của NASA)
Đài Loan (chữ Trung phồn thể: 臺灣 hoặc 台灣; chữ Trung giản thể: 台湾; bính âm: Táiwān; Wade-Giles: T'ai-wan; tiếng Đài Loan: Tâi-oân) là một đảo ở khu vực Đông Á, ngoài khơi đông nam Đại lục Trung Quốc, phía nam Nhật Bản và phía bắc Philippines. "Đài Loan" cũng thường để chỉ lãnh thổ do nhà nước Trung Hoa Dân Quốc (THDQ) quản lý, bao gồm các đảo Đài Loan (gồm có đảo Lan Tự và Lục Đảo), quần đảo Bành Hồ tại eo biển Đài Loan, Kim Môn và Mã Tổ ở ngoài khơi Phúc Kiến, đồng thời cũng chiếm đảo Thái Bình và đảo Đông Sa ở Biển Đông. Đảo chính của Đài Loan cũng được gọi là Formosa cho đến thập niên 1960 (các thủy thủ người Bồ Đào Nha gọi nó là Ilha Formosa, nghĩa là "hòn đảo xinh đẹp"), phía đông giáp với Thái Bình Dương, phía nam giáp Biển Đông, phía tây là eo biển Đài Loan và phía bắc là Đông Hải Trung Quốc. Hòn đảo này dài 394 km và rộng 144 km, gồm nhiều dãy núi dốc và bao phủ bởi hệ thực vật nhiệt đới và tiểu nhiệt đới.
Lịch sửThời tiền sử và những những người định cư đầu tiênQuốc Tính Gia và cai trị của phong kiến Trung QuốcThời kỳ của Trung Hoa Dân QuốcTrong thời kỳ Trung Quốc chống lại quân xâm lược Nhật, Trung Quốc Quốc Dân Đảng với Trung Quốc Cộng Sản Đảng đã xây dựng mặt trận thống nhất dân tộc chống Nhật. Sau khi cuộc chiến tranh chống Nhật giành được thắng lợi, Quốc dân đảng do Tưởng Giới Thạch cầm đầu dựa vào sự ủng hộ của Mỹ mở cuộc nội chiến trên phạm vi toàn quốc. Trải qua 3 năm nội chiến, Đảng cộng sản Trung Quốc đánh bại Quốc dân đảng. Năm 1949, Quốc dân đảng thất bại ở đại lục đã buộc phải rút về Đài Bắc, thành phố lớn nhất của đảo Đài Loan, thành lập nước Cộng hòa Trung Hoa (Republic of China), tiếp tục tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ Trung quốc đại lục và Mông Cổ. Ở Trung quốc lục địa, đảng Cộng sản Trung quốc thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và tuyên bố chủ quyền của mình lên đảo Đài loan và xem Đài loan là một tỉnh phản loạn. Hiện nay, Đài Loan và Trung Quốc vẫn đang tranh cãi về quyền tự chủ của Đài Loan, vốn bị Trung Quốc coi là một phần của Trung Quốc, trong khi đó Đài Loan lại cho rằng họ là một nước độc lập và có quyền tự chủ. Cai trị của phát xít NhậtNăm 1894, Nhật phát động cuộc chiến tranh xâm lược Trung Hoa, Triều đình Nhà Thanh nhà cầm quyền Trung Hoa lúc bấy giờ thua trận và năm sau buộc phải ký "Hiệp ước Mã Quan" với Nhật, một nội dung quan trọng trong Hiệp ước này là cắt Đài Loan cho Nhật theo yêu cầu của Nhật. Năm 1945, Nhật bại trận trong đại chiến thế giới lần thứ 2, Trung Quốc đã thu hồi Đài Loan bị Nhật thống trị 50 năm. Năm 1937, Nhật phát động cuộc chiến tranh xâm lược Trung Quốc toàn diện, Trung Quốc bắt đầu bước vào cuộc kháng chiến kéo dài trong 8 năm. Năm 1941, Chính phủ Trung Quốc thông báo cho các nước trong "Bố cáo tuyên chiến với Nhật" rằng Trung Quốc phế bỏ mọi điều ước, hiệp định, hợp đồng trong quan hệ Trung-Nhật kể cả "Điều ước Mã Quan" và sẽ giải phóng c. Năm 1943, Chính phủ ba nước Trung Quốc, Mỹ và Anh ra "Tuyên bố Cairo" qui định Nhật cần phải trao trả toàn bộ những vùng đất cướp đoạt của Trung Quốc như vùng đông bắc, Đài Loan, các đảo Bành Hồ, v.v cho Trung Quốc. Năm 1945, ba nước Trung Quốc, Mỹ và Anh đã ký "Thông cáo Boston" mà sau này Liên Xô cũng tham gia, qui định các điều kiện trong Tuyên bố Cairo cần phải thực thi. Tháng 8 cùng năm, Nhật tuyên bố đầu hàng và cam kết trong điều khoản đầu hàng rằng sẽ thực hiện một cách trung thành những qui định và nghĩa vụ trong Thông cáo Boston. Tháng 10, Chính phủ Trung Quốc Quốc Dân Đảng đã thu hồi Đài Loan bị Nhật chiếm đóng 50 năm, khôi phục thi hành chủ quyền đối với Đài Loan. Địa lýĐài Loan thuộc khu vực Thái Bình Duơng, phía nam giáp với Biển Đông và phía đông giáp với Trung Hải. Đài Loan còn một số đảo nhỏ ở kế bên như: Lan Tư, Lục Đại, quần đảo Bành Hồ, Kim Môn, Mã Tổ... Đài Loan thuờng có bão lũ và động đất xảy ra dữ dội trên bán đảo. Phân chia hành chínhĐể tiện quản lý hành chính, Đài Loan chia toàn lãnh thổ đảo thành ba khu hành chính: gồm Đài Bắc, Đài Trung và Đài Nam. Đài Bắc là khu vực phát triển nhất và tập trung nhiều khu công nghiệp ở đó. Đài Bắc còn có một ngành điện ảnh phát triển. Đài Trung cũng có khu công nghiệp nhưng ít hơn ở Đài Bắc. Đài Nam chủ yếu là vùng nông nghiệp. Về đơn vị hành chính, phần lãnh thổ Trung Quốc mà chính quyền Đài Loan quản lý được chia thành tỉnh Đài Loan, tỉnh Phúc Kiến, thành phố Đài Bắc, và thành phố Cao Hùng. Tỉnh Đài Loan lại được chia thành 16 huyện và 5 thành phố trực thuộc tỉnh. Tỉnh Phúc Kiến được chia thành 2 huyện. Thành phố Đài Bắc được chia thành 12 khu. Thành phố Cao Hùng được chia thành 10 khu. Các huyện lại được chia thành thành phố trực thuộc huyện (縣轄市), trấn (鎮) và hương (郷). Hiện thành phố trực thuộc huyện của Đài Loan gồm có 32 đơn vị. Các thành phố trực thuộc huyện được chia thành các lý (里) nhưng đây không hoàn toàn là một đơn vị hành chính thực thụ. Dân sốĐảo Đài Loan người đông đất ít. Tính đến cuối năm 2001, dân số Đài Loan là 22,4 triệu người, trung bình mỗi một kilômét vuông có 619 người. Cơ cấu tuổi tác của dân số Đài Loan có xu thế già hoá. Đến cuối năm 2001, tỷ lệ dân số từ 0-14 tuổi giảm xuống còn 25,8%, tỷ lệ dân số từ 15-64 tuổi tăng lên đến 67,4%, và tỷ lệ dân số trên 65 tuổi tăng lên đến 6,8%. Dân số Đài Loan rải rác không đồng đều ở các khu vực. Vùng núi có diện tích chiếm 1/3 tổng diện tích Đài Loan, có độ cao so với mặt biển trên 1000 mét, nhưng trung bình mỗi một kilômét vuông chỉ có hơn 20 người. Còn ở thành thị, mỗi một kilômét vuông có hơn 4800 người, nhất là ở thành phố Đài Bắc, Cao Hùng, Đài Trung, Cơ Long, Tân Trúc, Gia Nghĩa, Đài Nam, dân số càng đông. Diện tích của 7 thành phố nói trên chỉ chiếm 2,9% tổng diện tích cả tỉnh, nhưng dân số chiếm 31% tổng dân số Đài Loan. Tùy theo sự phát triển của kinh tế-xã hội, chính sách dân số của Đài Loan không ngừng được điều chỉnh. Kể từ năm 1965, Đài Loan bắt đầu thực thi chính sách "Kế hoạch hóa gia đình", chủ yếu bao gồm nội dung hạn chế tuổi tác sinh đẻ của thanh niên nam nữ, và chính sách kêu gọi một đôi vợ chồng chỉ đẻ hai con. Sau đó, tỷ lệ sinh đẻ của phụ nữ đến tuổi sinh đẻ giảm dần, đóng góp nhất định cho việc hòa dịu sự tăng trưởng của dân số. Nhưng việc giảm thiểu dân số dẫn đến vấn đề dân số già hóa và lao động tăng ít. Nên, năm 1990, nhà đương cục Đài Loan sửa đổi "Cương lĩnh chính sách dân số", nêu ra chính sách một đôi vợ chồng có thể đẻ 3 con. Mấy năm gần đây, nhà đương cục Đài Loan tiến thêm một bước áp dụng chính sách khuyến khích sinh đẻ. Đài Loan có nhiều dân tộc, chủ yếu là dân tộc Hán, dân tộc Mông Cổ, dân tộc Hồi, dân tộc Mèo, dân tộc Cao Sơn v.v. Trong đó dân số dân tộc Hán chiếm trên 97% tổng dân số. Cộng đồng dân tộc Hán chủ yếu gồm người miền nam Phúc Kiến và người Khách Gia. Phần lớn người miền nam Phúc Kiến có quê quán Thuyền Châu hoặc Chương Châu tỉnh Phúc Kiến, và phần lớn người Khách Gia có quê quán Mai Châu và Triều Châu tỉnh Quảng Đông. Dân tộc Cao Sơn là dân tộc thiểu số có dân số nhiều nhất ở Đài Loan. Về nguồn gốc của dân tộc Cao Sơn, có nhiều giải thích khác nhau, nhưng ngày càng nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy ông cha của dân tộc Cao Sơn Đài Loan là từ đất liền Trung Quốc di chuyển tới Đài Loan. Dân tộc Cao Sơn sinh sống chủ yếu tại các vùng núi cao của Đài Loan. Cho tới nay, dân số của dân tộc Cao Sơn luôn duy trì tăng trưởng, tính đến năm 2001, dân tộc Cao Sơn đã có 415.000 người. Kinh tếTrong 5 thập niên qua, Đài Loan chuyển mình từ một nền kinh tế nông nghiệp, chậm phát triển sang một nước công nghiệp phát triển, trong đó các ngành sản xuất là thành phần chính tạo thành điều được gọi là 'phép lạ kinh tế Đài Loan.' Trong thập niên 1960, nhờ đầu tư nước ngoài, nhiều ngành kỹ thuật tiên tiến được đưa vào Đài Loan. Chẳng mấy chốc, đảo quốc trở thành một trong những nước xuất cảng chính các loại máy móc điện tử, thiết bị điện và sản phẩm bằng plastic. Sang thập niên 1970, chính phủ Đài Loan tài trợ những dự án quy mô trong các ngành công nghiệp cơ bản như hoá dầu, luyện sắt thép, đóng tầu và tạo điều kiện thuận lợi cho kỹ nghệ đóng xe hơi trong nước lớn mạnh hơn nữa. Thập niên 1980 đánh dấu thời kỳ tăng triển mạnh các ngành kỹ nghệ điện tử, chế tạo máy và tin học ở Đài Loan. Một yếu tố quan trọng phải nói tới, với sự phát triển nhanh chóng của ngành dịch vụ trong thập niên 1990, kinh tế Đài Loan không còn chỉ dựa trên căn bản các ngành công nghiệp sản xuất như trước. Ngày nay, 55% lực lượng lao động được tuyển dụng trong ngành dịch vụ. Phần đông làm việc tại các tiệm buôn sỉ và lẻ, cửa hàng ăn và khách sạn. Ngoài ra, một số lớn nhân viên được thu dụng vào các cơ quan xã hội, phục vụ cá nhân cũng như cộng đồng, những công ty tài chính, bảo hiểm và bất động sản. Theo dự đoán, điện tử, tin học và thông tin sẽ là những ngành góp phần phát triển kinh tế Đài Loan trong tương lai trước mắt. Là một hòn đảo tương đối nhỏ, kinh tế Đài Loan lệ thuộc rất nhiều vào thương mại. Số hàng bán sang Trung Quốc chiếm gần một phần tư tổng khối lượng xuất cảng của Đài Loan. Thương gia Đài Loan cũng bỏ rất nhiều vốn đầu tư vào Hoa Lục. Do đó, làn sóng công nghiệp hóa ở Trung Quốc đang cống hiến cho Đài Loan cơ sở sản xuất, với chi phí thấp, đồng thời bản thân Hoa Lục cũng là thị trường nhiều hứa hẹn cho Đài Loan. Văn hóaNgôn ngữNgôn ngữ chính thức được dùng tại Đài Loan là tiếng Phổ thông Trung Quốc (người Đài Loan gọi là Quốc Ngữ), tiếp theo đó là tiếng Mẫn Nam (tức tiếng Phúc Kiến), tiếng Khách Gia (tiếng huyện Mai, tỉnh Quảng Đông) và một bộ phận nhỏ nói tiếng Cao Sơn (tiếng bản địa, thứ tiếng của dân tộc thiểu số) do đại bộ phận người Đài Loan được di cư từ tỉnh Phúc Kiến và Quảng Đông sang. Tôn giáoDo ảnh hưởng một phần trung quốc nên đa số là tôn giáo phật. Do đại bộ phận dân cư Đài Loan hiện nay di cư từ Phúc Kiến và Quảng Đông sang nên khi dư cư họ mang theo tôn giáo của mình tới Đài Loan: Thờ Ma Tổ 媽祖 (Thánh Mẫu Nương Nương), Thánh Cung (Quan Vân Trường) và Phật. Văn hóa "cửa hàng tạp hóa"Chính TrịHệ thống chính trị ở Đài Loan dựa trên cơ sở hiến pháp ban hành năm 1947. Văn kiện này quy định một cơ cấu gồm nội các song hành với hệ thống các ban ngành trong chính phủ. Tất cả công dân trên 20 tuổi đều có quyền đi bầu. Đầu thập niên 1990, Đài Loan chuyển từ nhà nước độc đảng sang thể chế dân chủ. Những cơ quan chính trong chính phủ gồm Phủ Tổng thống; Quốc hội (hội đồng hiến pháp); và năm cơ quan điều hành là Lập pháp (Quốc hội); Hành pháp (Nội các); Tư pháp (cơ quan luật pháp ở cấp cao nhất của nhà nước); Viện Giám sát (đặc trách giám sát Công vụ); và cơ quan Kiểm sát (đặc trách buộc tội, phê bình và kiểm toán.) Thủ tướng và phó thủ tướng cầm đầu nội các. Các thành viên trong nội các không do dân bầu mà được chỉ định. Tất cả các đạo luật của Quốc hội phải được tổng thống ký thành luật. Ngoài ra, tổng thống là người có thẩm quyền chung quyết trong các vấn đề liên quan đến quân đội và an ninh quốc gia. Liên kết ngoài
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||
This article is from Wikipedia. All text is available under the terms of the GNU Free Documentation License.